Kinh thành Huế hay còn được gọi là Thuận Hóa kinh thành là tòa thành ở Cố đô Huế, nơi đóng đô của vương triều nhà Nguyễn trong suốt 140 năm từ 1805 đến 1945. Kinh thành Huế được vua Gia Long tiến hành khảo sát từ năm 1803, khởi công xây dựng từ 1805 và hoàn chỉnh vào năm 1832 dưới triều vua Minh Mạng. Sau này, vào ngày 11 tháng 12 năm 1993, Kinh thành Huế là một trong số các di tích thuộc cụm Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới.

kinh thanh dai noi hue

1. Qúa khứ của Kinh thành Cố đô

Trước khi vua Gia Long cho xây thành mới, ở Phú Xuân đã có thành cũ của các chúa Nguyễn để lại. Nhưng thấy các thành cũ kia quá nhỏ hẹp, nên sau khi thống nhất thiên hạ, vào năm 1803 vua Gia Long đã sai người đi khảo sát, chọn địa điểm để xây dựng mở rộng Kinh thành làm nơi bốn phương tụ về.

1.1 Các vua Nguyễn có thật sự để ý đến con dân của mình?

Chuẩn bị cho công cuộc xây dựng Kinh thành, vị vua đầu tiên của triều Nguyễn đã phái quân mở đường sá. Việc mở rộng Kinh thành có ảnh hưởng đến nơi ở và đất ruộng của nhân dân nên nhà vua đã thực hiện chính sách đền bù nhà cửa, ruộng vườn chu đáo, giữ yên lòng dân sau đó mới bắt tay xây dựng Kinh thành. Nhận thấy công việc xây dựng Kinh thành hết sức vất vả và nặng nhọc nên ngay từ những ngày đầu mới bắt tay vào làm, vua Gia Long đã trả công hoặc giảm tiền thuế cho binh lính rất rộng rãi. Ngoài ra, nhà vua còn hạ lệnh quy định giờ làm việc để tiện cho binh dân, tránh ảnh hưởng tới sức khỏe binh dân, bên cạnh đó ông còn hạ lệnh cho Thái y viện chia đóng nhiều nơi ở công trường để điều trị quân sĩ trong khi có bệnh hoạn. Sau khi hoàn thành việc xây dựng Kinh thành, vua Minh Mạng còn ra lệnh ban thưởng cho các điền bình.

hinh anh ve kinh thanh hue

1.2 Gian nan trong quá trình dựng thành

Trước khi xưng đế, vào tháng 4 năm Nhâm Tuất (1802) vua Gia Long đã bắt đầu cho xây dựng Hoàng Thành (tức Đại Nội) . Đúng hai năm sau, song song với công tác kiến trúc Hoàng Thành, vua hạ lệnh cho xây Cung Thành (tức Tử Cấm Thành). Tháng 4 năm 1805, sau khi chọn ngày tốt làm lễ tế trời đất vua cho khởi công xây đắp Kinh thành (còn gọi là Phòng Thành hay Hộ Thành). Mới đầu thành được đắp bằng đất, bằng gỗ ván bọc mặt ngoài nên từ tháng 4 đến tháng 8, đã hoàn tất. Đến năm 1818, nhà vua bắt đầu cho xây gạch. Vua Gia Long thực hiện công việc xây dựng Kinh thành dở thì lâm bệnh nặng mà mất, vua Minh Mạng lên nối ngôi tiếp tục sứ mệnh mà vua cha để lại. Ông cho tiến hành xây dựng và hoàn chỉnh thêm các hạng mục lớn nhỏ trong ngoài Kinh thành. Năm 1831, cho tu sửa lại kỳ đài. Đồng thời, vua Minh Mạng cũng cho xây bó phía mặt trong bên hữu, phía sau Kinh thành.

Vị vua thứ hai của triều Nguyễn cũng rất kỹ lưỡng trong việc xây dựng Kinh thành: “Phàm làm việc gì cũng chọn vật liệu cho tốt, làm cho vững bền, mong không hư phí của công, khó nhọc một lần mà được an nhàn lâu dài mãi”. Đến năm 1832, công việc xây đắp Kinh thành đã xong. Như vậy, công cuộc xây dựng Kinh thành được bắt đầu từ mùa hè năm 1802 và hoàn thành cơ bản vào năm 1832 trải dài suốt 30 năm.

II. Kết cấu của kiến trúc cung đình đồ sộ

Hệ thống kiến trúc Kinh thành Huế được hoạch định theo những nguyên tắc chặt chẽ, đăng đối: chia ra các vị trí tiền, hậu, tả, hữu, thượng, hạ, chiêu mục tất cả đều nhất quán. Nó thể hiện những khái niệm triết lý, chính trị, tư tưởng của Nho giáo phương Đông.

ket cau kinh thanh hue nhin tu xa

1. Ý nghĩa sâu xa của nơi sinh ra Kinh thành

Vua Gia Long không chọn xây kinh thành xa Phú Xuân, nơi các chúa Nguyễn đã đặt phủ chúa từ năm 1687. Vị trí này thực ra đáp ứng hoàn toàn điều kiện an ninh đòi hỏi cho một kinh đô vì gần núi để có chỗ ẩn khi gặp biến cố hiểm nguy, cũng khá xa bờ biển để khỏi bị cướp biển quấy phá, cùng sự hoạt động của các tàu chiến nước ngoài. Mặt khác, thuyền đi biển có thể lên gần đến Phú Xuân; như vậy về mặt thương mãi, Phú Xuân có tất cả thuận lợi của một cảng sông mà không bị trở ngại quân sự hay chính trị.

2. Cái cầu kỳ của kiến trúc di tích

Kinh thành Huế là một thành luỹ dài cao 6,60m, dày 21m với chu vi gần 9.000m. Trên mặt thành ngày xưa có đến 24 pháo đài. Bên ngoài, dọc theo bờ thành có hào sâu bảo vệ. Kinh thành liên lạc với bên ngoài qua 8 cửa trổ theo 8 hướng: Chính Đông, Chính Tây,Chính Nam, Chính Bắc, Tây Bắc, Tây Nam, Đông Bắc, Đông Nam. Hai bên kỳ Đài có hai cửa Thể Nhơn và Quảng Đức. Ngoài ra còn có hai cửa bằng đường thuỷ ở hai đầu sông Ngự Hà là Đông Thành Thuỷ Quan và Tây Thành Thuỷ Quan. Phía Hoàng Thành ở góc đông bắc có một thành nhỏ, thời Gia Long gọi là Thái Bình, đến thời Minh Mạng đổi thành Trấn Bình Đài có chu vi gần 1 km, bên ngoài có hào rộng ăn thông với Hoàng Thành.

3. Tam thành và thứ tự lãnh địa

Kinh thành huế được xây dựng theo kiến trúc nghệ thuật cung đình và có 3 vòng thành lần lượt là Kinh thành, Hoàng thành và Tử Cấm Thành.
Kinh thành Huế là vòng thành ngoài cùng, đây là nơi ở của vua và Hoàng gia, cũng là nơi làm việc của triều đình, thờ tự tổ tiên và các vị vua nhà Nguyễn. Hoàng Thành là vòng thành thứ 2 có 4 cửa được bố trí ở 4 mặt, trong đó cửa chính (ở phía Nam) là Ngọ Môn. Bên trong Hoàng thành có Điện Thái Hoà là nơi thiết triều. Và Tử Cấm thành là vòng thành trong cùng, nằm trong Hoàng thành. Thành có hình chữ nhật, cạnh nam và bắc dài 341m, cạnh đông và tây dài 308m, chu vi 1300m. Ở mặt trước, phía nam là cửa chính là Đại Cung Môn. Mặt bắc có 2 cửa Tường Loan và Nghi Phụng, thời Bảo Đại, sau khi xây lầu Ngự Tiền Văn Phòng mở thêm cửa Văn Phòng. Mặt đông có hai cửa Hưng Khánh và Đông An, về sau lấp cửa Đông An, mở thêm cửa Duyệt Thị ở phía đông Duyệt Thị Đường. Mặt tây có 2 cửa: Gia Tường và Tây An. Bên trong Tử Cấm thành bao gồm hàng chục công trình kiến trúc với quy mô lớn nhỏ khác nhau, được phân chia làm nhiều khu vực.

ban do kinh thanh hue thoi xua

III. Nét lôi cuốn kỳ lạ của đất Cố đô

Điểm thu hút nổi bật nhất của Cố đô Huế là Kinh thành, tiêu biểu cho tầm vóc và sức sống của cả dân tộc. Trong lịch sử Việt Nam thời cận đại công trình xây dựng Kinh thành Huế là một công trình đồ sộ, bề thế và quy mô. Ngay cả vua Gia Long cũng thừa nhận rằng: “Việc xây thành là quan trọng lớn lao, của công tiêu tốn rất nhiều”.  Vì vậy, mỗi công trình kiến trúc trong Kinh thành Huế là một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh, đặc sắc, độc đáo, thể hiện một phần những yếu tố triết lý, tâm linh và giá trị thẩm mỹ riêng biệt của người Việt cổ. Có thể nói, mỗi công trình, mỗi dự án là sự tâm huyết của những nghệ nhân sáng tạo và công lao xây đắp của tổ tiên. Chính vì vậy mà mỗi góc, mỗi nơi đều mang vẻ đẹp riêng biệt nhưng kết hợp lại mang một vẻ đẹp hài hòa đặc trưng của Kinh thành.

cong vao dai noi hue

IV. Giá trị của Kinh thành nâng cao vị thế của Việt Nam trên thế giới

1. Vị trí văn hóa trên nền quốc tế

Cố đô Huế là vùng đất văn hiến, có bề dày lịch sử, văn hoá đặc sắc và truyền thống cách mạng vẻ vang, có nhiều di sản văn hóa, di tích lịch sử và hàng trăm lễ hội mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, văn hoá Huế. Tiêu biểu và nổi bật nhất là Quần thể di tích cố đô Huế, Nhã nhạc Cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới, Mộc bản triều Nguyễn, Châu bản triều Nguyễn và Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế cũng được UNESCO công nhận là di sản tư liệu.

Nhã nhạc Cung đình Huế được coi là Quốc nhạc Việt Nam, một loại hình âm nhạc chính thống được sử dụng trong các chương trình tế lễ trọng thể của triều Nguyễn như Lễ đăng quang, Lễ tang, Tế Nam Giao … Là hình tượng của Hoàng tộc và trường sinh. Và sự hưng thịnh của Vương triều.

Các mộc bản Triều Nguyễn đã cho người xem cái nhìn khái quát về nhân quyền con người trong thời kỳ phong kiến. Đây là những tài liệu gốc, độc bản, có giá trị, phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sử và văn hóa Việt Nam thời cận đại.

Nhờ vào các di sản văn hóa trên, Thừa Thiên Huế đã tổ chức nhiều lễ hội văn hóa nhằm giữ nét đẹp văn hóa đất Cố đô. Nhờ vậy mà đây được tôn vinh là vùng đất của lễ hội, với trên 500 lễ hội, bao gồm các lễ hội cung đình, lễ hội dân gian, truyền thống, lễ hội tôn giáo tồn tại từ bao đời nay và gắn liền với những giá trị văn hóa của mỗi vùng đất. Đặc biệt, lễ hội Festival Huế diễn ra vào các năm chẵn và Festival Nghề truyền thống diễn ra vào các năm lẻ với những chuỗi hoạt động văn hóa, lễ hội ấn tượng, đặc sắc gắn kết với hoạt động giao lưu văn hóa quốc sôi động, đa dạng, phong phú đã được trình diễn trong các kỳ Festival đã góp phần nâng cao vị thế văn hóa Việt Nam nói chung và văn hóa Huế nói riêng trên quốc tế.

festival hue

2. Giá trị lịch sử – Mồ hôi nước mắt của mọi giai tầng trong xã hội của một thời

Nhìn vào thành quả của công trình kiến trúc Kinh Thành Huế cũng đủ để cho mọi người thán phục tài năng và công lao xây đắp của tiền nhân. Trong lịch sử quá trình xây dựng thành, Vua Gia Long đã khởi công xây dựng và vua Minh Mạng thì hoàn tất công cuộc xây dựng, điều này khiến hầu hết tất cả mọi người đều hiểu lầm rằng việc xây dựng nên một thành lũy đồ sộ, nguy nga là công sức của các vua Nguyễn.

Ít ai nhận ra rằng, công lao để tạo nên sản phẩm tráng lệ ấy không phải chỉ riêng của các vị vua mà còn là công sức đóng góp của cả một dòng họ, một triều đại. Và trên tất cả, công sức dựng nên thành là công lao của cả hàng ngàn dân chúng Việt Nam đương thời, là mồ hôi nước mắt của mọi giai tầng trong xã hội của một thời đã đổ ra.

Giá trị của một sản phẩm không chỉ dựa trên vẻ đẹp và công dụng của nó mà còn được đánh giá dựa trên công sức của người đã tạo thành. Tương tự, giá trị của Kinh thành Huế không chỉ dựa trên vẻ đẹp, độc đáo hay những giá trị văn hóa được toàn thế giới công nhận mà còn được đanh giá dựa trên những hy sinh xương máu của hàng ngàn người dân để kiến tạo nên một kỳ công, hay đúng hơn một kỳ quan cho đất nước.

Tâm Anh